Làm việc trong công ty Nhật tại Việt Nam qua những ngày rất bình thường
Sáng thứ Hai đầu tiên của tôi ở một văn phòng Nhật bắt đầu lúc 7 giờ 52 phút. Tôi tự hào vì đến sớm tám phút. Đến nơi thì cả phòng đã ngồi đủ, máy tính bật sẵn, ai cũng đang đọc gì đó. Không ai nói gì với tôi về chuyện giờ giấc. Nhưng chiều hôm đó, chị trưởng nhóm người Việt kéo tôi ra pantry, rót cho tôi ly trà và nói nhỏ: “Ở đây tám giờ là giờ bắt đầu làm, không phải giờ bước vào cửa.”
Tôi ghi lại câu đó vào sổ. Nhiều năm sau, cuốn sổ đó dày lên thành mấy cuốn, và phần lớn những gì tôi viết trên blog này đều lấy từ đó ra. Bài này là bản gom lại, cho những ai đang cân nhắc chuyện làm việc trong công ty Nhật tại Việt Nam, hoặc vừa mới vào và đang thấy mọi thứ hơi lạ.
Tôi không định vẽ ra một hình mẫu chung cho mọi công ty Nhật. Một nhà máy linh kiện ở khu công nghiệp ngoài Hà Nội khác rất xa một công ty phần mềm gia công ở quận 7. Một văn phòng đại diện năm người khác một tập đoàn có cả nghìn công nhân. Những gì dưới đây là những điểm tôi thấy lặp lại ở hầu hết nơi tôi từng làm hoặc từng qua lại.
Giờ giấc và buổi chào sáng
Chuyện đến sớm thì ai cũng nghe rồi. Cái ít người nói là nó không phải luật thành văn. Hợp đồng ghi tám giờ, máy chấm công ghi tám giờ, nhưng người ta để ý ai ngồi vào bàn lúc mấy giờ. Không ai phạt. Chỉ là sau ba tháng, người hay sát giờ thường được giao ít việc quan trọng hơn một chút, và tự họ cũng không biết vì sao.
Nhiều nơi có chourei (朝礼), buổi họp đứng đầu ngày, chừng năm đến mười lăm phút. Ở nhà máy thì có thêm phần nhắc an toàn, hô khẩu hiệu, đôi khi tập thể dục nhẹ. Ở văn phòng thì đơn giản hơn: mỗi người nói hôm nay làm gì, có gì vướng. Lần đầu đến lượt mình, tôi nói lan man gần hai phút. Ông phó phòng người Nhật nghe hết, gật đầu, rồi hôm sau bắt đầu buổi họp bằng việc tự mình nói đúng ba câu. Tôi hiểu ý.
Giờ về thì phức tạp hơn. Có công ty về đúng giờ là chuyện bình thường, có nơi cả phòng ngồi lại đến bảy giờ dù không ai yêu cầu. Tôi từng ở cả hai kiểu. Điều tôi rút ra là đừng đoán, hãy nhìn hai tuần đầu xem người làm lâu năm và được tin tưởng nhất trong phòng về lúc nào, rồi hỏi thẳng họ nếu thấy cần.
Báo cáo, liên lạc, hỏi ý
Nếu phải chọn một thói quen tạo khác biệt lớn nhất giữa người trụ được và người bỏ ngang, tôi chọn thói quen báo cáo. Người Nhật gọi là hourensou: báo cáo, liên lạc, hỏi ý. Tôi đã viết riêng một bài dài về chuyện này, nên ở đây chỉ kể một lần mình làm hỏng.
Năm thứ hai, tôi nhận một lô hàng mẫu bị lệch quy cách. Tôi nghĩ mình xử lý được, liên hệ nhà cung cấp, đổi xong trong hai ngày, rồi mới kể cho sếp. Kết quả tốt. Nhưng sếp không vui. Ông không trách vì lô hàng, ông hỏi: “Nếu hai ngày đó nhà cung cấp không trả lời thì sao? Lúc đó tôi mới biết thì đã muộn.” Lần đó tôi hiểu rằng ở công ty Nhật, kết quả tốt mà đến bất ngờ đôi khi cũng bị xem là một rủi ro.
Tin xấu báo sớm luôn nhẹ hơn tin tốt báo muộn. Tôi mất gần một năm mới thật sự tin câu này.
Đi kèm với nó là nemawashi, chuyện trao đổi riêng trước khi đem một đề xuất ra họp. Người mới hay thấy cái này rườm rà, thậm chí hơi “chính trị”. Tôi cũng từng nghĩ vậy. Giờ thì tôi thấy nó giống việc gửi bản nháp cho từng người đọc trước, đỡ cho ai đó bị bất ngờ giữa phòng họp.
~ ~ ~
Tiếng Nhật cần đến đâu
Câu tôi được hỏi nhiều nhất qua email là: không biết tiếng Nhật có vào được không? Có. Rất nhiều vị trí kế toán, kỹ thuật, sản xuất, IT dùng tiếng Anh hoặc làm việc qua phiên dịch. Tôi biết những người làm cả chục năm trong nhà máy Nhật chỉ nói được vài câu chào.
Nhưng nói thật, không biết tiếng thì có một cái trần. Bạn sẽ luôn nghe thông tin qua một lớp trung gian, và trong những cuộc trao đổi ngoài giờ, lúc ăn trưa, lúc đi nomikai, bạn ngồi ngoài. Mà nhiều quyết định nhỏ lại được nói ra đúng những lúc ấy.
Khi tôi còn đi tìm việc, việc tôi làm thường xuyên nhất là đọc mô tả công việc, kể cả những tin chưa định nộp, để biết người ta đang đòi tiếng ở mức nào cho vị trí nào. Bây giờ thì có sẵn các trang tổng hợp việc làm tiếng Nhật, đọc chừng hai mươi tin là đã hình dung được mặt bằng chung cho ngành của mình.
Bảng dưới là cách tôi hình dung, dựa trên những người quanh mình, không phải chuẩn của công ty nào cả.
| Mức tiếng Nhật (theo JLPT) | Thường làm được gì | Hay vướng ở đâu |
|---|---|---|
| Chưa học hoặc N5–N4 | Chào hỏi, hiểu khẩu lệnh đơn giản trên chuyền, đọc vài biển báo | Mọi trao đổi chuyên môn phải qua phiên dịch hoặc tiếng Anh |
| N3 | Nói chuyện công việc hằng ngày, viết tin nhắn nội bộ ngắn | Email cho khách, kính ngữ, họp nhanh có nhiều người Nhật |
| N2 | Đọc tài liệu, dịch thông thường, làm cầu nối trong nhóm | Thuật ngữ chuyên ngành, văn bản hợp đồng |
| N1 và có kinh nghiệm | Đàm phán, làm việc thẳng với công ty mẹ, phiên dịch cấp quản lý | Thường là không vướng ngôn ngữ nữa mà vướng cách nói khéo |
Một điều tôi muốn nói thêm: bằng JLPT là giấy thông hành, không phải năng lực giao tiếp. Tôi từng làm cùng một bạn N1 nhưng nói điện thoại với khách Nhật thì run, và một anh N3 nói chuyện tự nhiên đến mức người Nhật quý hơn. Nhà tuyển dụng có kinh nghiệm cũng biết điều này, nên vòng phỏng vấn tiếng thường được cho nói thật chứ không chỉ hỏi bằng cấp.
Đồng nghiệp người Nhật
Lúc đầu tôi nghĩ họ lạnh. Ít cười trong giờ làm, ít khen, góp ý thì vòng vo đến mức tôi không nhận ra đó là góp ý. “Cái này cũng được, nhưng có lẽ nên xem lại một chút” nghĩa là: sửa đi.
Phải sau một bữa nomikai cuối năm tôi mới thấy mặt khác. Ông trưởng phòng ngồi cạnh tôi, kể chuyện con gái ông thi đại học, hỏi tôi quê ở đâu, nhớ cả tên mẹ tôi mà tôi chỉ nhắc một lần nhiều tháng trước. Hôm sau lên văn phòng, ông lại nghiêm như cũ. Tôi hiểu đó là hai chỗ khác nhau, và người ta giữ ranh giới đó khá rõ.
Vài thứ nhỏ nhưng tôi thấy có ích:
– Khi đi công tác hay về quê, mang một hộp bánh nhỏ chia cho cả phòng, gọi là omiyage, là thói quen được để ý nhiều hơn mình tưởng.
– Đừng đặt sếp người Nhật vào thế phải nói “không” trước mặt người khác; hỏi riêng thì dễ được đồng ý hơn.
– Khi được góp ý, cảm ơn trước rồi mới giải thích, nếu thật sự cần giải thích.
Không có gì cao siêu. Nhưng tôi đã thấy người giỏi chuyên môn rời đi sau sáu tháng chỉ vì không chịu những chuyện nhỏ như vậy.
Cái được và cái mệt
Cái được lớn nhất với tôi là cách làm việc có quy trình. Mọi thứ có checklist, có mẫu báo cáo, có người kiểm lại. Lúc đầu thấy chậm. Về sau tôi nhận ra mình ít phải chữa cháy hơn hẳn so với bạn bè làm ở nơi khác. Thói quen 5S, kaizen, ghi lại lỗi và nguyên nhân, tôi mang theo cả ra ngoài công việc.
Đào tạo cũng là điểm cộng. Nhiều công ty cử người sang Nhật học vài tuần hoặc vài tháng, có nơi trả tiền học tiếng. Tất nhiên đi kèm là cam kết làm việc một thời gian, nên đọc kỹ trước khi ký.
Cái mệt thì có. Quyết định chậm. Một thay đổi nhỏ trong quy trình có thể mất ba tuần chờ duyệt vì cần công ty mẹ gật đầu. Văn hóa thâm niên vẫn còn ở nhiều nơi, người trẻ giỏi đôi khi phải đợi. Và chuyện làm thêm giờ, tùy công ty, có thể là chuyện nhẹ nhàng hoặc là lý do chính khiến người ta nghỉ.
~ ~ ~
Lương thưởng thì tôi không nói con số, vì nó chênh nhau quá nhiều giữa nhà máy và văn phòng, giữa người có tiếng và không, giữa Hà Nội, Bình Dương hay Đà Nẵng. Điều tôi thấy khá đều là công ty Nhật ít khi trả vượt mặt bằng để giành người, nhưng tăng đều, thưởng theo kỳ rõ ràng và hiếm khi nợ lương. Ai cần nhảy vọt nhanh thì có lẽ sẽ sốt ruột. Ai cần ổn định để tính chuyện dài hơi thì thường thấy hợp.
Hỏi nhanh
Mới ra trường có nên vào công ty Nhật không?
Theo tôi là nên, nếu bạn chịu được kỷ luật và chưa vội đi nhanh. Hai ba năm đầu ở đây dạy cách làm việc có nề nếp, thứ mà sau này đi đâu cũng dùng được.
Công ty Nhật có khắt khe với lỗi sai không?
Khắt khe với lỗi bị giấu hơn là lỗi sai. Sai rồi báo ngay, kèm hướng xử lý, thường được bỏ qua nhanh hơn bạn nghĩ.
Nghỉ việc ở công ty Nhật có khó không?
Không khó về thủ tục, nhưng nên báo sớm hơn mức tối thiểu trong hợp đồng và bàn giao thật kỹ. Người Nhật nhớ lâu cách bạn rời đi.
Tôi vẫn giữ cuốn sổ đầu tiên. Trang đầu có câu của chị trưởng nhóm về giờ giấc, trang thứ ba là danh sách những từ tiếng Nhật tôi nghe không hiểu trong tuần đầu, dài gần hết trang. Bây giờ đọc lại thì buồn cười. Nhưng hồi đó, mỗi ngày đi làm về tôi đều mệt vì phải đoán. Nếu bài này giúp ai đó bớt phải đoán vài thứ, vậy là đủ.
Kiệt