Cuộc điện thoại đầu tiên tôi nhấc máy ở văn phòng Nhật là của một khách hàng hỏi gặp trưởng phòng. Tôi trả lời bằng thứ tiếng Nhật lịch sự nhất mình có: “Tanaka-san wa ima irasshaimasen.” Đầu dây bên kia im một nhịp. Sau đó khách nói cảm ơn, hẹn gọi lại. Cúp máy xong, chị đồng nghiệp ngồi bàn bên quay sang, nhẹ nhàng: “Em vừa kính ngữ sếp mình với khách đấy.”

    Câu đó đúng ngữ pháp. Nó chỉ sai chỗ. Và đó là thứ khó nhất của kính ngữ tiếng Nhật trong công ty: không phải học thuộc động từ, mà biết đang đứng ở phía nào khi nói.

    Tôi đã học keigo trong sách từ trước khi đi làm. Đủ để thi. Nhưng phải ngồi văn phòng vài tháng, nghe đồng nghiệp người Nhật nói điện thoại, đọc email họ gửi khách, tôi mới thấy nó vận hành ra sao. Bài này ghi lại những chỗ tôi từng vấp, theo thứ tự mà tôi vấp.

    Ba lớp lịch sự

    Keigo (敬語) thường được chia ba nhóm. Tôi giải thích theo cách mà hồi đó tôi ước có người giải thích cho mình.

    Teineigo (丁寧語) là lớp ngoài cùng, lịch sự chung. Đuôi desu, masu. Nói với ai cũng không sai, nên người mới cứ bám vào đây trước. Một nửa số tình huống ở văn phòng chỉ cần chừng này.

    Sonkeigo (尊敬語) là nâng hành động của người khác lên. Khi nói về việc khách làm, sếp làm, mình dùng động từ tôn kính. Khách “đến” thì là irassharu, khách “nói” thì là ossharu.

    Kenjougo (謙譲語) là hạ hành động của mình xuống. Mình “đến” thì là mairu hoặc ukagau, mình “nói” thì là mousu. Hạ mình xuống cũng là một cách gián tiếp nâng người nghe.

    Nguyên tắc nghe thì gọn: người kia làm thì nâng, mình làm thì hạ. Cái khó là “mình” ở đây không chỉ là bản thân tôi.

    Trong và ngoài

    Người Nhật chia quan hệ thành uchi (内, trong) và soto (外, ngoài). Khi nói chuyện nội bộ, sếp là người trên, nên tôi dùng sonkeigo cho sếp. Nhưng khi nói với khách, cả công ty tôi là “trong”, khách là “ngoài”. Lúc đó sếp tôi cũng thuộc về phía “mình”, nên phải hạ xuống như hạ chính tôi.

    Vậy nên câu đúng với khách hôm đó phải là: “Moushiwake gozaimasen, Tanaka wa tadaima seki wo hazushite orimasu.” Bỏ “-san” khỏi tên sếp. Dùng orimasu, dạng khiêm nhường của “đang ở”. Nghe thì như mình đang nói hơi trống không về sếp, nhưng với người Nhật, đó mới là phép lịch sự với khách.

    Tôi mất gần một tháng để nói câu này mà không thấy ngượng miệng. Lần đầu nói trúng, chị đồng nghiệp giơ ngón cái từ bàn bên.

    Học keigo thì dễ. Học cách đứng đúng phía khi nói mới tốn thời gian.

    Chuyện trong và ngoài này không riêng gì ngôn ngữ. Nó có mặt trong cách chia việc, cách ngồi họp, cả cách mời nước khách, và tôi đã viết dài hơn về cả môi trường làm việc công ty Nhật ở một bài khác cho ai muốn đọc thêm.

    Một điều nữa về xưng hô. Trong công ty, người ta gọi nhau bằng họ cộng “-san”, hoặc gọi bằng chức danh: kachou (trưởng phòng), buchou (trưởng bộ phận lớn hơn), shachou (giám đốc). Gọi “Tanaka-kachou” là đủ kính, không cần thêm “-san” phía sau chức danh. Khách hàng trong email và thư từ thì dùng “-sama”. Tôi từng viết “Tanaka-kachou-sama” trong một email nội bộ. Không ai nói gì, nhưng ông trưởng phòng in nó ra, khoanh đỏ, và để lên bàn tôi kèm một mảnh giấy ghi cười.

    Những cặp động từ dùng nhiều nhất

    Keigo có nhiều động từ đặc biệt, nhưng trong văn phòng thì vài cặp này lặp lại gần như mỗi ngày. Tôi dán bảng này trên màn hình suốt mấy tháng đầu.

    NghĩaSonkeigo (người khác làm)Kenjougo (mình làm)
    Nóiおっしゃる ossharu申す mousu, 申し上げる moushiageru
    Đi, đếnいらっしゃる irassharu, お越しになる okoshi ni naru参る mairu, 伺う ukagau
    Ở, có mặtいらっしゃる irassharuおる oru
    Xemご覧になる goran ni naru拝見する haiken suru
    Làmなさる nasaruいたす itasu
    Biếtご存じ gozonji存じる zonjiru, 存じ上げる zonjiageru
    Gặpお会いになる oai ni naruお目にかかる ome ni kakaru

    Nhìn bảng thì thấy nhiều, nhưng thật ra cứ dùng vài tuần là thuộc. Cái khó là phản xạ khi đang nói nhanh, nhất là qua điện thoại.

    ~ ~ ~

    Mấy lỗi tôi gặp lại nhiều lần

    Đây là những lỗi tôi từng mắc, rồi về sau thấy các bạn mới vào cũng mắc y hệt.

    Lỗi đầu tiên là trả lời sếp bằng “Ryoukai shimashita” (了解しました). Ở nhiều nơi, câu này bị xem là hơi ngang hàng khi nói với cấp trên hay khách. Đồng nghiệp người Nhật dạy tôi đổi sang “Shouchi shimashita” (承知しました), hoặc “Kashikomarimashita” khi nói với khách. Cũng có người Nhật bảo chuyện này không quá nghiêm trọng, nhưng tôi thấy đổi đi thì không ai phàn nàn, còn giữ thì thỉnh thoảng có người nhíu mày.

    Lỗi thứ hai là nói “Gokurou-sama desu” với người trên. Nghĩa đen là cảm ơn vì đã vất vả, nhưng nó thường được người trên nói với người dưới. Với sếp hay đồng nghiệp lớn hơn, cứ “Otsukare-sama desu” là an toàn.

    Lỗi thứ ba là kính ngữ chồng lên kính ngữ. Muốn thật lịch sự nên tôi từng nói “ossharareru”, tức là gắn thêm đuôi tôn kính vào một động từ vốn đã tôn kính. Người Nhật gọi là nijuu keigo, kính ngữ kép. Nghe gượng. Cứ “ossharu” là đủ.

    Lỗi thứ tư thì khó nhận ra hơn: dùng kenjougo cho người khác. Kiểu như hỏi khách “Haiken shimashita ka?” để hỏi khách đã xem tài liệu chưa. Haiken là mình xem. Khách xem thì phải là “Goran ni narimashita ka?”. Lỗi này tôi mắc trong email nhiều hơn khi nói, vì khi viết mình hay bắt chước câu có sẵn mà không nghĩ ai là chủ ngữ.

    Có những lỗi tôi chỉ biết mình sai vì có người chịu nói. Nên nếu bạn làm cùng người Nhật thân thiện, cứ hỏi. “Câu này em nói vậy có tự nhiên không?” Hầu hết họ sẽ vui vẻ sửa cho, đôi khi còn kể thêm rằng chính người Nhật trẻ mới đi làm cũng hay sai mấy chỗ này. Các công ty ở Nhật thường có cả buổi đào tạo keigo cho nhân viên mới tốt nghiệp. Nghĩa là không ai sinh ra đã nói đúng.

    Cách tôi luyện

    Không có gì đặc biệt. Tôi giữ một file ghi chú, mỗi lần nghe được một câu hay từ đồng nghiệp thì chép lại, kèm tình huống. Khi nhận điện thoại, khi chuyển máy, khi xin lỗi vì trả lời chậm, khi nhờ người khác xem giúp tài liệu. Sau vài tháng file đó có chừng trăm câu, và tôi phát hiện mình chỉ thật sự dùng khoảng ba chục câu trong số đó.

    Tôi cũng tập nói to một mình trước khi gọi khách. Nghe có vẻ buồn cười. Nhưng câu nào đã nói ra miệng một lần thì lúc cần, nó tự bật ra nhanh hơn hẳn.

    Khi tôi bắt đầu tự hỏi “mình đang đứng ở phía nào” trước khi mở miệng, phần lớn lỗi tự biến mất.

    Với đồng nghiệp cùng cấp thân thiết, sau một thời gian, mọi người sẽ chuyển sang nói tự nhiên hơn, đôi khi bỏ cả desu masu. Đừng vội làm trước. Đợi người Nhật chuyển trước, rồi mình theo. Tôi từng nói suồng sã quá sớm với một anh đồng nghiệp lớn hơn hai tuổi, và mất mấy tuần anh ấy mới nói chuyện lại thoải mái như trước.

    Còn cuộc điện thoại đầu tiên đó, tôi vẫn nhớ cái im lặng một nhịp ở đầu dây bên kia. Bây giờ mỗi lần dạy người mới, tôi kể lại chuyện ấy trước tiên.

    Kiệt